Gánh nặng của sự tự do (P5): Min và Kun

Bài gốc: College rank and neo-liberal subjectivity in South Korea: the burden of self-development

Thứ hạng các trường đại học và chủ thể tự do kiểu mới ở Hàn Quốc: gánh nặng của việc tự phát triển bản thân

Tác giả: Nancy ABELMANN, So Jin PARK and Hyunhee KIM

Dịch: Thanh Vân

Xem bài trước:

Gánh nặng của sự tự do (P1): Heejin

Gánh nặng của sự tự do (P2): Heejin (tiếp)

Gánh nặng của sự tự do (P3): Sori

Gánh nặng của sự tự do (P4): Sori (tiếp)


Gánh nặng của sự tự do (P5):

Bên rìa đại đô thị – Chuyện của Min và Kun

 

‘Mỗi chúng ta phải biết chính xác mình đi đâu và đưa ra lựa chọn thích hợp.’

Chúng tôi đến gặp hai sinh viên nam đang học năm cuối ở ĐH Thành phố Incheon, Min và Kun, cả hai đều là con của những thương gia nhỏ. Minh cũng là con trai của một người mẹ đơn thân. Tuy chúng tôi nhấn mạnh nhất vào sự phân hoá về trường đại học, Min và Kun rõ ràng có xuất thân thấp hơn những sinh viên khác đã bàn tới lúc trước. Mặc dù vậy hai SV này cũng phải nhận lấy trách nhiệm phát triển bản thân ở bên ngoài bức tường trường học. Min cho rằng mỗi sinh viên phải quyết định xem trường học có vừa vặn với chiến lược phát triển bản thân của họ không. Kun, người gần đây quyết định sẽ thi kỳ thi công chức, đã chọn một tương lai mang tính cổ điển hơn trong khi vẫn duy trì khả năng phát triển bản thân vượt lên công việc đó.

ĐH TP Incheon là một trường phổ thông (không tinh hoa) nơi được chọn bởi những SV sống ở Seoul không thể nhập học ở Seoul hoặc những SV địa phương ở Incheon hay các tỉnh. Incheon, thành phố nằm trải ra bao bọc lấy Seoul, là một ca thú vị. Mặc dù là một thành phố độc lập với lịch sử riêng không liên quan đến đại đô thị Seoul, thành phố này khó có thể bị coi là ‘tỉnh lẻ’ nhưng đồng thời rõ ràng không trực thuộc Seoul. ĐH TP Incheon, ban đầu vốn là trường tư, được chuyển thành trường công vào năm 1994 và hiện đang trong quá trình đổi thành một đại học quốc gia.

incheon

Hiện trường đã là ĐH Quốc gia Incheon.

Ảnh: https://www.inu.ac.kr/mbshome/mbs/inueng/index.do

Chúng tôi gặp Min và Kun trong một nhóm đông SV của Khoa Truyền thông vào năm 2003 và trong một nhóm nhỏ hơn vào năm 2004. Vào năm 2004, Min đã không tới trường nữa do công việc thực tập của anh trở thành công việc toàn thời gian cho dù Min vẫn cần học thêm vài môn. Anh đã rất cố gắng đến và gặp chúng tôi bởi một câu chuyện muốn kể gấp. Vào năm 2003, Min, lúc đó đang ăn mặc rất độc đáo và có phong cách, nói về ‘quyết tâm đổi đời’ và về tuổi thơ khác biệt khi không có cha mà chỉ có một người mẹ mạnh mẽ đến mức ‘điên rồ’. Anh tự giới thiệu mình là một ‘triết gia chiết trung’ (thu thập nhiều nguồn và chiết ra các ý tưởng, phong cách) và rõ ràng là bạn bè đã nghe nhiều về điều này.

Min là một nhà trình diễn của sự khác biệt. Vào năm 2003, anh nói về văn hoá tranh luận hoặc đối thoại nghèo nàn của Hàn Quốc. Cho rằng nói tiếng Anh ‘thoải mái hơn’, Min dường như cho rằng khi dùng tiếng Anh thì không bị trường học Hàn và có lẽ cả xã hội Hàn kìm kẹp. Bình luận về tiếng Anh, Min kể về những chuyến đi nước ngoài – các chuyến du lịch tiết kiệm ở quanh châu Á, và sự cởi mở với thế giới của mình.

Khi nói tiếng Anh tôi thấy không khó lắm. Nó dễ dàng và có hệ thống… Chúng ta có một vấn đề thực sự với hệ thống giáo dục. Chúng ta bắt đầu đi học và học những thứ kỳ dị [sách giáo khoa tiếng Anh] – và vẫn học như thế ở cấp 2 và cấp 3. Tôi không hiểu sao lại phải học những thứ đó. Chúng ta có thể cứ đi và nói chuyện tuỳ tình huống, nhưng thực tế lại cứ học kiểu này. Có ai biết vì sao không thể bỏ sách đi được không?

Một lúc sau, Min tôn vinh ‘tiếng Anh sinh tồn’ (survival English), thứ tiếng Anh sinh ra từ những giao tiếp thực tế và trải qua quá trình tích luỹ tự nhiên hơn:

Khi tôi nói tiếng Anh ở nước ngoài, tôi không chủ tâm nghĩ về nó – Tôi chỉ ghi nhớ các từ và câu mà người ta dùng và cứ thế nói theo. … Chỉ cần thay đổi cuối câu một tí và sử dụng một cách dễ dàng, nhưng thay vào đó [mọi người ở Hàn] cứ ngồi trong thư viện 5 tiếng một ngày để học. Điều đó vô nghĩa. Chúng ta thực sự phải thay đổi sớm [hệ thống giáo dục].

Nếu thứ tiếng Anh mà Min nói và học trong chuyến đi ở Ấn Độ có ‘tự nhiên’ hơn, thì tiếng Anh của người Hàn sẽ là thảm hoạ – một kiểu tiếng Anh bị trói buộc trong SGK và lớp học. Khi nghe Min nói về việc học tiếng Anh, Kun không phản đối nhưng bày tỏ một quan điểm khác: ‘Tiêu chí đánh giá việc học tiếng Anh của chúng ta [người Hàn] là kỳ thi TOEIC. Min chưa học để thi TOEIC nhưng cậu ấy đi Ấn và học rất nhiều tiếng Anh ở đó. Min đang nói về tiếng Anh thực dụng.’ Ở dưới đây chúng ta sẽ thấy Kun mới chỉ đi du lịch trong nước và do đó đưa ra những lựa chọn khác với Min, dù có thể nói là xuất thân của hai người không khác nhau mấy.

Ngoài việc phê phán sâu sắc việc học tiếng Anh ở Hàn Quốc, Min cũng chỉ trích vòng xoay cạnh tranh không hồi kết ở Hàn và những mối quan hệ cần có (thông qua trường học, quê hương, gia đình) để thành công. Min nhắc đến ‘căn bệnh ĐH Quốc gia Seoul’ của Hàn Quốc, cụm từ chỉ nỗi ám ảnh bệnh lý về ngôi trường cụ thể này. Điều thú vị là khi bàn về tiếng Anh, Min nhấn mạnh rằng trình độ tiếng Anh của mình giỏi hơn các SV của ĐHQG Seoul. Tương tự Sori, Min đưa ra những phê phán mang trính cốt lõi, nhưng anh có vẻ được tiếp thêm sức mạnh và không cho  việc phải đi học ở ĐH TP Incheon là một thất bại. Khó có thể khái quát hoá từ một trường hợp này, chúng tôi nghĩ rằng cả tầng lớp và giới tính có liên quan đến sự khác biệt này.

board-of-men-cartoon-deciding-on-women

Ảnh: http://www.northwestleader.com/2014/men-need-hear-women-say-patriarchy-still-problem/

Min không bị đè nén bởi cảm giác thất bại và thiếu hỗ trợ như Sori. Trong khi Sori bị kìm hãm bởi khao khát làm vui lòng người cha gia trưởng, Min lại tự hào về xuất thân độc đáo của mình, rằng anh không bị trói buộc bởi các truyền thống gia đình ‘có tính Hàn Quốc’. Việc Minh được tự do khỏi hệ thống gia trưởng – một cách mỉa mai – có thể được xem là một lợi thế về giới. Một cô bé không cha sẽ được coi nhận khác và không cách nào thoát khỏi các lễ giáo gia trưởng được. Khi miêu tả về cách mình đi du lịch ở Ấn Độ đến việc làm thêm khi đi học, Min đã nói về tinh thần kinh doanh đã sớm hình thành do bị gạt ra rìa về mặt văn hoá. Vị trí của Min nằm ngoài logic của hệ thống gia trưởng, điều đã đè nặng lên Sori. Nói về tương lai của mình, Min nhắc đến cảm hứng Phật giáo: ‘nghe lời trái tim’.

Năm 2004, thông qua một đợt thực tập, Min đã nhận được một công việc đáng mơ ước: một nhà sản xuất truyền hình cho một công ty truyền thông ở Seoul. Khi giải thích cách nhận được việc, anh nói rằng mỗi người cần nhận trách nhiệm quản lý tương lai của chính họ, một điều có rủi ro cao và bị chi phối bởi nhiều lựa chọn:

Khi tôi đi học, tôi nhận được nhiều cuộc gọi, ‘Min, có muốn đi làm thêm không?’ Tôi sẽ hỏi các bạn, ‘Hey, cùng làm nhé,’ nhưng thường thì họ sẽ nói ‘Không, không được, mình có lớp.’ Tôi thì lại bỏ lớp và đi làm. Bởi vì bỏ nhiều lớp quá, điểm trung bình của tôi ở giữa B và C… nhưng tôi học được trực tiếp nhiều kỹ năng của nghề. Do đó tôi có thể gia nhập thế giới lao động nhanh chóng. Những SV mài đũng quần ở trường không thể tiến vào xã hội và đi làm dễ dàng như thế. Đây là một đánh giá cá nhân của tôi; tôi làm những điều tôi đã làm bởi tôi đã lựa chọn làm chúng. Điểm số cũng quan trọng và tôi cũng lo về điểm. … Mỗi chúng ta cần biết chính xác mình đi đâu và đưa ra lựa chọn thích hợp. Tôi đã chọn con đường mình đi từ rất lâu về trước và đã đi con đường đó mà không run rẩy.

Những suy nghĩ của Minh về học hỏi ‘thực tế’ phản ánh những chia sẻ trước đó về học ngoại ngữ và các cách phát triển bản thân của Min. Thế nhưng, Min đã rất cố gắng có mặt tối đó không phải để kể những chuyện này mà là để kể một câu chuyện tình. Đó là một chuyện tình rất dài, kể mà không ngừng nghỉ, chỉ trừ những cử động tỏ ý cảm thông của người nghe; câu chuyện có vẻ đã rất quen thuộc với Kun và một sinh viên nữa cúng có mặt. Kể ngắn gọn, Min đã nảy sinh tình cảm với một người phụ nữ Ấn Độ, người tham gia một chương trình TV mà anh đã chỉ đạo như một phần của kỳ thực tập đã dẫn đến công việc hôm nay. ĐÓ là một truyện cổ tích về tình yêu chân thành và sự chia ly đau đớn: cô gái không được tự do kết hôn với người nước ngoài. Dù là một câu chuyện nghiêm túc và đôi khi gay cấn, cũng có những đoạn hài hước chủ yếu là về Min lơ là công việc để đi theo trái tim. Chúng tôi chăm chú nghe kể chuyện. Min thực sự giỏi trong việc giữ sự chú ý của khán giả.

india-1

Ảnh: http://absolutetravel.com/travel-destinations/luxury-travel-in-india/india/family-tour-of-india/

Vừa nghe chúng tôi vừa bất ngờ với cách Min sử dụng chuyện này như một cách sống và trải nghiệm thực tế giống y như cách anh đưa ra các lựa chọn khi đi học. Ban đầu nghe có khác xa với Heejin, người hạnh phúc với các chứng chỉ và ‘sự kiện’ hay Sori, người tìm kiếm ‘item’ (để buôn bán), nhưng câu chuyện của Min cũng có quan tâm mạnh mẽ về trải nghiệm và những cách để chấm phá bản thân.

Min cũng kể cho chúng tôi một câu chuyện dễ thương với một khách du lịch Nhật ở Ấn Độ. Cuộc gặp gỡ chỉ nhẹ nhàng thoáng qua nhưng lại rất ý nghĩa. Nó ghi lại một cách đẹp đẽ sức hút của việc đi du lịch, những phép màu và sự phiêu lưu mà nó hứa hẹn. Bàn luận về du lịch, chính là một ví dụ khác của ‘trải nghiệm,’ cũng đã được nhắc đến nhiều trong cuộc gặp một năm về trước, nhất là với Kun.

(còn tiếp)

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *