Tôi & châu Á

Gánh nặng của sự tự do (P3): Sori

Bài gốc: College rank and neo-liberal subjectivity in South Korea: the burden of self-development

Thứ hạng các trường đại học và chủ thể tự do kiểu mới ở Hàn Quốc: gánh nặng của việc tự phát triển bản thân

Tác giả: Nancy ABELMANN, So Jin PARK and Hyunhee KIM

Dịch: Thanh Vân

Xem bài trước:

Gánh nặng của sự tự do (P1): Heejin

Gánh nặng của sự tự do (P2): Heejin (tiếp)


Gánh nặng của sự tự do (P3):

Một trường ĐH “hạng 3”- Chuyện của Sori

 

‘Tôi không nhận được gì từ cái trường này cả’.

Chúng tôi gặp Sori lần đầu tiên năm 2004 ngay trước khi cô quay lại học năm cuối ở ĐH Myongji sau một năm tạm nghỉ. ĐH Myongji là một nỗi thất vọng với Sori về mọi lẽ. Vốn là một học sinh phổ thông rất chăm chỉ và nhắm tới các trường tốt hơn, Sori đã rất vất vả khi được nhận vào một trường cô cho là ‘hạng 3’. Điều thú vị, nửa là bi kịch, là Sori kể về hành trình phát triển bản thân không hề khác so với Heejin, cho dù hoàn cảnh cá nhân cô đã loại Sori khỏi các trường ĐH tinh hoa – dấu hiệu của sự hoàn thiện cá nhân lý tưởng. Bỏ qua những chi phí cá nhân và sự ám ảnh của việc vào ĐH, Sori vẫn sẵn sàng nhận lấy toàn bộ gánh nặng về việc phát triển con người và vật chất của cá nhân cô, ‘có trách nhiệm với sự vận hành của chính bản thân’ (Walkerdine 2003: 239). Dù đôi khi Sori đưa ra một cách hệ thống những chỉ trích có tính cốt lõi và mang định kiến giới tính (gendered), cô luôn nhanh chóng trở về chủ đề trách nhiệm của cá nhân.

Việc tách chuyện đi học ĐH của Sori khỏi câu chuyện của cha cô ấy là bất khả thi; thực tế, chuyện vào ĐH luôn là một cuộc đối thoại giữa nhiều thế hệ, bằng cách này hay cách khác. Khi Sori ‘kết thúc’ hành trình bằng việc nhập học ĐH Myongji, cha của cô, một thương nhân xuất nhập khẩu tự lực gây dựng sự nghiệp, đã nói rằng cô ‘không được tích sự gì’ và việc tiếp tục đầu tư cho cô là vô nghĩa! Sori đã đậu vào ĐH Myongji sau một năm ôn và thi lại (chaesu). Điểm thi lần đầu của cô thấp đến nỗi cô không buồn đăng ký vào đại học bởi những trường mà Sori đủ điểm để vào thì cô lại không hề quan tâm. Khác với những sinh viên đến từ các gia đình trung lưu – mà Sori có vẻ là như vậy – cô không đi đến trung tâm luyện tư nhân trong năm ôn thi lại, mà lại chôn mình trong một thư viện công bởi cha của cô đã tuyên bố rằng Sori, người con duy nhất của ông, là ‘một ca không hy vọng gì’.

Cha của cô đã tuyên bố rằng Sori, người con duy nhất của ông, là ‘một ca không hy vọng gì’.

Chúng tôi thấy rằng ở đây, sự đầu tư vào giáo dục của gia đình Sori rõ ràng mang định kiến về giới. Cô tả về binh đoàn những học sinh không may vẫn đang ở trong thư viện, vật vờ với những ước mơ riêng, nhiều người trong đó đã theo đuổi việc đậu ĐH trong hàng năm trời hoặc đang liên tiếp học thi cho các kỳ thi quốc gia. Sự mỉa mai khi Sori đi học ở ĐH Myongji là việc cha của cô, người đầu tiên trong cả gia đình nghèo được đi học ĐH, cũng đã theo học ĐH Myongji này. Thật không thể tưởng tượng nổi là người con gái, đứa trẻ được nuôi dưỡng với rất nhiều ưu đãi so với cha, lại không thể làm được tốt hơn.

Một năm sau, điểm thi ĐH của Sori thậm chí còn đi xuống; cô giải thích rằng tích cách của cô không hợp với kỳ thi tuyển sinh. Ngoài ra, cô thừa nhận sự vô lý nhất của sự việc: điểm số cao nhất của cô lại giữ nguyên liên tiếp trong 3 lần thi cho dù cô không hề học cho bài thi đó. Nhưng kể cả khi chúng tôi thúc ép, và bản thân Sori thừa nhận rằng cô không sinh ra để đi thi, Sori vẫn không phê phán cơ chế tuyển chọn bằng thi cử này trong một xã hội Hàn Quốc quá cạnh tranh. Thay vào đó, cũng như Heejin, cô cho rằng các kỳ thi và bằng cấp là cần thiết cho sự cạnh tranh của Hàn Quốc.

Khi Sori giải thích rằng điểm số cần để đậu vào khoa Quản trị Kinh doanh của ĐH Myongji không khác so với các khoa kém nổi tiếng hơn ở các trường xịn hơn, cô dường như muốn phê phán sự phân tầng của giáo dục ĐH ở Hàn Quốc với giá trị thương hiệu của nó. Ngược lại, Sori lại muốn phê bình trường học của cô. Cô kể chi tiết các vì sao mà ngôi trường không xứng với hình ảnh một trường ĐH, một hình ảnh có thể đạt được bởi đa số bạn bè của cô ở trường cấp 3 hoặc trung tâm luyện thi đều chọn nhập học các ĐH có thứ hạng cao hơn. Thực tế, vào ngày chúng tôi gặp gỡ, Sori được tháp tùng bởi một người bạn đang chuẩn bị học thạc sỹ ở ĐH Yonsei danh tiếng chỉ cách khu học xá của ĐH Myongji ít phút.

Sori nhắc đến thư viện trống rỗng của Myongji, nơi hoàn toàn vắng vẻ chỉ trừ mùa thi. Ở đây ta có thể nhớ lại cái cách Heejin thấy cảm động bởi hàng dài những sinh viên xếp hàng để được vào thư viện ĐH Korea lúc bình minh. Sori cũng thấy thiếu thốn những mối quan hệ xã hội có ý nghĩa: cô kể rằng trong khi sinh viên ở ĐH Yonsei hoặc ĐH Korea xây dựng mối quan hệ với ‘tiền bối’ và tham gia các câu lạc bộ hoặc nhóm học, ‘chẳng có gì để tôi học hỏi từ họ cả [những SV Myongji]. Cô tiếp tục, ‘Tôi không nhận được gì từ cái trường này cả’. Khi chúng tôi hỏi vì sao cô không thể ‘nói chuyện’ được với bạn học ở Myongji, cô tiếp lời:

Ví dụ thế này: Tôi quan tâm đến tiếng Anh, nhưng nếu tôi thử nói với họ về việc học tiếng Anh, họ không biết gì cả. Họ không hề biết thầy giỏi trường tốt ở đâu, không biết làm sao để chuẩn bị thi TOEFL, vân vân. Nếu họ có học một tí tiếng Anh, họ sẽ ít nhất biết mấy chuyện đó và tôi có thể nói với họ về chuyện TOEFL khó như thế nào. Nhưng tất cả những gì họ có thể nói là ‘Tớ không biết gì về TOEFL’ hay ‘Tớ chưa bao giờ thi TOEIC.’

Với những lời bình này, Sori cảm thấy cô như đang nói về những sinh viên không có tương lai hoặc không có tham vọng. Cô cũng nói về sự thiếu hụt mạng lưới (network) hoặc giá trị xã hội ở một nơi như ĐH Myongji; không có những mối quan hệ quan trọng hoặc thông tin hữu ích có thể nhặt nhạnh được ở đây. Những sinh viên này, những người không biết mấy về thi tiếng Anh mà ở ĐH Korea đó là một tiêu chí để tốt nghiệp (nhờ số điểm này mà Sori nhận được một học bổng có giá trị tại ĐH Myongji), thực ra cũng đi du học, nhưng như Sori nói, ‘họ đi mà không biết gì cả’: ‘Họ cứ sang Trung Quốc hoặc Mỹ bởi cha mẹ họ cho đi. Tôi không hiểu được họ. Họ nói rằng, “Đi du học chẳng phải tốt lắm sao? Nó mở rộng tầm nhìn mà?” Nhưng họ hoàn toàn không có kể hoạch gì để tận dụng trải nghiệm du học đó.‘ Về phần mình, Sori không bao giờ có thể mơ mộng đến việc dùng tiền của cha mẹ mà không có ‘quyết tâm mãnh liệt’ để học hành thật chăm chỉ. Ở đây, Sori phân tách tinh thần khỏi người đưa ra quyết định. Những người bạn học kia, cô nhấn mạnh, rất thiếu tinh thần – sự chủ động – điều sẽ mang lại các hiệu quả có ý nghĩa.

Mong mỏi đi theo bước đường của cha, Sori nhận lấy gánh nặng tự lực cánh sinh để phát triển bản thân. Sori ngưỡng mộ cha cô, một doanh nhân thành đạt đi đây đi đó, ‘một người tự gây dựng sự nghiệp và nói tiêng Anh rất giỏi so với độ tuổi của ông.’

Phần tiếp theo: Gánh nặng của sự tự do (P4): Sori (tiếp)