Tôi & châu Á

Gánh nặng của sự tự do (P2): Heejin (tiếp)

Bài gốc: College rank and neo-liberal subjectivity in South Korea: the burden of self-development

Thứ hạng các trường đại học và chủ thể tự do kiểu mới ở Hàn Quốc: gánh nặng của việc tự phát triển bản thân

Tác giả: Nancy ABELMANN, So Jin PARK and Hyunhee KIM

Dịch: Thanh Vân

Xem bài trước:

Gánh nặng của sự tự do (P1): Heejin


Gánh nặng của sự tự do:

Một trường ĐH tinh hoa dành cho cả nam-nữ (P2)

Chúng tôi dành khá nhiều thời gian nói về yêu cầu tiếng Anh để tốt nghiệp mà nhà trường mới thông qua, cụ thể là điểm thi TOEIC đạt 800 trở lên. Ngay cả khi chúng tôi đang ngồi với nhau, hội sinh viên vẫn đang bận biểu tình chống lại sự thay đổi điều kiện tốt nghiệp này và nhiều nỗ lực mang tính hung hăng của ĐH Korea để toàn cầu hoá. Heejin khá thực tế về yêu cầu tốt nghiệp này và cô cho rằng nó cần khó khăn hơn thế. Cô nói rằng những cựu sinh viên ĐH Korea là những người cần có trình độ Anh ngữ tốt. Cô còn thêm ‘kỳ trước tôi đọc giáo trình tiếng Anh nhiều hơn tiếng Hàn.’ Heejin cương quyết cho là nhà trường cần áp dụng yêu cầu này và nhiều chứng chỉ khác đối với sinh viên tốt nghiệp. Cô nói rằng cô ủng hộ ‘mọi thứ làm nổi bật việc tôi đã đạt đến trình độ này [vung tay].’ Một lúc sau cô nói thêm ĐH Korea là thương hiệu của cô và do đó cô muốn tiêu chuẩn của trường ở mức cao.

Heejin là một người ủng hộ tuyệt vời cho những nỗ lực của ĐH Korea để đi từ ‘đại học quốc gia Korea’ trở thành ‘đại học quốc tế Korea.’ Cô bình về chiến dịch báo chí của nhà trường, ‘Giờ chúng tôi đã quay lưng với quê nhà và đang tiến về phía thế giới.‘ Cô khen ngợi cố gắng của nhà trường để được vào danh sách 100 trường ĐH hàng đầu thế giới mà không có ĐH Hàn Quốc nào làm được. Cô cũng biết rõ khẩu hiệu của Hiệu trưởng, ‘Hãy cố gắng vì sự hãnh diện của [trường] chúng ta!’ Đối với Heejin, việc hướng đến toàn cầu, tiêu chuẩn cao về trình độ tiếng Anh, vô số các chứng chỉ, và những tiêu chuẩn không ngừng được nâng cao là những biểu hiện của sự phát triển bản thân, không hề là một ‘sự kết thúc’ như bạn bè đã chọc cô, mà là một cách sống. Mục tiêu sự nghiệp của Heejin đã bao gồm sự phát triển bản thân. Cô kể chi tiết về ‘khao khát’ không ngừng của cô về ngoại ngữ: ‘Chuyên ngành của tôi là văn học Anh. Nhưng chỉ học tiếng Anh không thì không đủ. Cuối cùng thì ai cũng biết tiếng Anh thôi. … Hiện tôi đang học tiếng Nhật, và tôi sẽ tiếp tục với tiếng Tây Ban Nha. Và tôi cũng muốn học tiếng Hoa nữa.’ Cô thuật về việc tạo dựng một sự nghiệp trong đó cô có thể dùng tiếng Anh để ‘giao tiếp với người nước ngoài.’ Heejin tưởng tượng ra cô liên tục di chuyển, đi lại tự do đến mọi nơi, mọi thứ dễ dàng vì cô biết nhiều ngôn ngữ, và cô sẽ là một cây cầu nối Hàn Quốc với thế giới. Heejin muốn làm một ‘đạo diễn sự kiện’, cụ thể hơn cô hy vọng tổ chức các sự kiện cộng đồng để ‘quảng bá văn hoá nước ngoài’. Miêu tả về nghề nghiệp của Heejin là tổng hợp ý niệm của cô về sự phát triển của bản thân cộng với định nghĩa của cô về ‘toàn cầu’.

Tôi thích lập kế hoạch và hành động dựa theo chúng, biến chúng thành hiện thực. … Tôi là kiểu người chủ động kết nối với bạn bè. Tôi muốn phát triển khía cạnh này của bản thân. Tôi cũng thích làm việc với người khác. Đã có lúc tôi nghĩ về việc trở thành một nhà sản xuất, nhưng tôi cảm thấy mình sẽ bị hạn  chế và việc đó khiến tôi nghĩ nhiều. … Một nhà sản xuất thì chỉ có thể hoạt động trong nước thôi. Tôi thì lại muốn tham gia vào việc truyền bá văn hoá nước ngoài.

Xuyên suốt khi Heejin nói chuyện, cả bạn bè của cô lẫn chúng tôi đều đặt câu hỏi là ai sẽ bị gạch ra khỏi định nghĩa của cô về hành trình trưởng thành như một con người. Heejin quả quyết rằng, trong thế giới ngày nay, Hàn Quốc không thể để mình bận tâm về bất công kinh tế- xã hội: ‘Còn sớm quá, chúng ta vẫn đang ở thời điểm mà học sinh cần học nhiều nữa và nhiều nữa; nhưng mọi người giờ chỉ có chơi thôi’.  Không để người đọc hình dung rằng lời khẳng định khát khao thành công cá nhân này có thể cản trở sự thành hình của quốc gia, những lời bình nhắc đến ‘cạnh tranh’ ở tầm quốc gia như thế không hề ít ỏi. Heejin không phải là người duy nhất nhấn mạnh rằng Hàn Quốc cần hạn chế những chính sách bình đẳng để kịp chạy đua lấy một chỗ đứng trong thế giới. Như nhiều tác giả đã tranh luận, chủ nghĩa dân tộc (nationalism) và chủ nghĩa thế giới (cosmopolitanism) thường sánh đôi với nhau (Cho 2008; Park and Abelmann 2004; Schein 1998).

Còn với những người không thể chi trả cho các lớp học tư ngoài giờ – điều bắt buộc nếu muốn đậu ĐH tốp cao, Heejin chỉ đề xuất, ‘họ nên chăm chỉ hơn và trở nên giàu có hơn.’ Ở đây chúng ta có thể nhắc lại quá trình tự xây dựng bản thân có tính cá nhân hoá cao, trong đó các ‘cá thể’ đơn giản là phải tự thân vận động. Heejin phê phán nhà nước vởi những chính sách ‘bình đẳng đi xuống’, với ‘đẩy lùi’ đất nước xuống trong cuộc đua toàn cầu. Về cuối cuộc gặp gỡ, bạn của Heejin đưa là một lời bình mà Heejin không thể hiểu được. Trong khi bàn chuyện học tiếng Anh, người bạn thú nhận là thích học văn học Hàn Quốc hơn, và Heejin trả lời ngắn gọn, ‘Tớ không hiểu được.’ Việc ưa thích văn học Hàn Quốc hơn, trong bối cảnh cuộc trò chuyện, là việc hạn chế bản thân vào một không gian chật chột hơn, loanh quanh ở trong nước với các tiêu chuẩn thấp hơn, thông qua việc gắn bó với một định dạng văn hoá không phổ biến trên toàn thế giới và có giá trị thị trường hạn chế.

Trong khi bạn của Heejin trân trọng văn học, đặc biệt là văn học Hàn Quốc, thì Heejin chỉ tập trung vào tính thị trường và khả năng giao lưu trong một khung cảnh rộng lớn hơn. Ngoài ra, với cảm nhận của cô về sự cạnh tranh giữa các quốc gia như đã nhắc đến ở trên, Heejin nhấn mạnh rằng các công dân có trách nhiệm trở nên cạnh tranh để đối mặt với cuộc đua toàn cầu. Ở khía cạnh này, người bạn của Heejin với đam mê về văn học địa phương, có thể sẽ kéo đất nước đi chậm lại.

Heejin do đó coi chính cô là một ví dụ hoàn hảo cho sự tự do kiểu mới. Cô vốn đã tốt nghiệp ‘trường chuyên’, ngôi trường chống lại chính sách đương thời về bình đẳng hoá giáo dục. Với tư cách sinh viên của một trường tinh hoa, cô bày tỏ suy nghĩ về sự tự do mới mẻ này, hào hứng với dự án xây dựng bản thân thành một nguồn lực tư bản sáng tạo.

(Phần 3: Sori – một sinh viên trường tầm tầm)